Showing posts with label Malaysia. Show all posts
Showing posts with label Malaysia. Show all posts

Monday, 10 September 2012

Vướng lợi ích riêng, châu Á khó đồng thuận


Trung Quốc đang trỗi dậy – quá nhanh. Vậy tại sao phần còn lại của châu Á không thể cùng nhau phối hợp hành động?

Thập niên qua, các quốc gia Đông Á đã gây bất ngờ cho các nhà quan sát bởi dường như họ đã muốn chung tay sát cánh.

Dù gì thì đây cũng là khu vực mà sự thù hận từ xa xưa (và có thể cũng không đến mức quá xưa) đã ăn quá sâu. Nhưng các nhà quan sát cũng chưa nên đặt quá nhiều hy vọng: Những mâu thuẫn ngày nay và di sản lịch sử vẫn đang ngăn cản việc biến các thỏa thuận thành một mối hợp tác khu vực đích thực.

Trên lý thuyết thì tiến bộ đạt được có vẻ đang diễn ra nhanh. Năm 2010, Trung Quốc, Australia và New Zealand đã đạt được thỏa thuận thương mại tự do với Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), cho phép quyền ưu tiên tiếp cận những thị trường của nhau. Trung Quốc, Nhật Bản, và Hàn Quốc cũng đang đàm phán một hiệp định mậu dịch tự do.

Nhưng công cuộc gắn kết các liên minh kinh tế Đông Á đang phải chịu gánh nặng lịch sử và trở nên trục trặc bởi những hiệp định an ninh thiếu hiệu quả. Ba điểm nóng lớn nhất trong khu vực đã tồn tại từ nhiều thập kỷ, nếu không nói là thế kỷ, và giống như miệng núi lửa - sống âm ỉ nhưng đôi khi vẫn gây chết người.

Không kể các cuộc chiến tranh của Pháp, Mỹ và Trung Quốc với Việt Nam, thì cuộc chiến toàn diện cuối là chiến tranh Triều Tiên, đã kết thúc gần 60 năm trước. Nhưng hậu quả của nó còn đeo đẳng tới tận hôm nay: CHDCND Triều Tiên và Mỹ chưa bao giờ đạt được một hiệp định hòa bình và về cơ bản vẫn đang trong tình trạng chiến tranh. Tương tự, cuộc xâm lược của đế quốc Nhật đối với Trung Quốc, Triều Tiên và Đài Loan và toàn bộ khu vực Đông Nam Á là nguyên nhân lớn nhất dẫn tới những biến động ở châu Á thế kỷ 20. Chiến tranh thế giới thứ hai vẫn để lại những ảnh hưởng chính trị ở châu Á lớn hơn nhiều ở Mỹ - mà minh chứng là sự đổ vỡ của hiệp định quân sự Hàn Quốc - Nhật Bản vì tinh thần chống Nhật còn dai dẳng tại xứ Hàn.

Nếu Nhật Bản bị đè nén bởi gánh nặng lịch sử, thì Trung Quốc cũng vậy. Sau khi quân du kích Trung Quốc đánh bật quân Nhật ra khỏi đất nước năm 1945, Mao Trạch Đông và Đảng Cộng sản Trung Quốc đã đẩy Tưởng Giới Thạch và Quốc dân đảng ra đảo Đài Loan năm 1949. Tháng 7, Trung Quốc tổ chức lễ thành lập cái gọi là "thành phố Tam Sa" để quản lý khoảng 77.000 dặm vuông Biển Đông. Hành động này đã gây phẫn nộ cho 5 quốc gia khác tuyên bố một phần Biển Đông là lãnh thổ của mình. Tổng thống Philippine Benigno Aquino dường như đã lên tiếng thay cho mọi người dân trong khu vực khi có bài phát biểu hồi tháng 7, với câu nói: "Nếu kẻ nào đó bước vào sân nhà chúng ta và nói mảnh sân này là của anh ta, chúng ta có cho phép điều đó?"

Trung Quốc, Nhật Bản và Đài Loan còn có tranh chấp gay gắt vì một quần đảo không người ở, năm giữa ba bên, mà Trung Quốc gọi là Điếu Ngư còn Nhật Bản gọi là Senkaku. Vấn đề này đã đánh đúng vào tâm lý dân tộc chủ nghĩa tại các bên tranh chấp. Thị trưởng Tokyo Shintaro Ishihara hồi tháng 6 thậm chí còn có một đề nghị rất mỉa mai rằng nên đặt tên cho con gấu trúc sắp chào đời tại vườn thú Tokyo là Sen-Sen hay Kaku-Kaku.

Ai đó có thể cho rằng một khi các quốc gia Đông Á giàu lên và ổn định hơn thì sẽ muốn thiết lập những đồng minh khu vực để giúp bảo vệ lợi ích và chủ quyền của nhau. Nhưng đây là một khu vực mà hoạt động ngoại giao rất dễ thay đổi và sự nghi kỵ tiếp tục cản trở những dàn xếp hợp lý cho mỗi bên. Khó có thể tin được khi tại đây chỉ có một liên minh quân sự duy nhất trong khu vực - đó là giữa Trung Quốc và Triều Tiên, một hiệp định được "hoàn tất bằng máu", như lời của Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt miêu tả hồi năm 2009.

Tất nhiên, Mỹ cũng có các cam kết tương tự với một loạt quốc gia trong khu vực. Mỹ đã ký các thoả thuận quốc phòng chính thức với Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippine, Thái Lan và Australia và các quan hệ đối tác an ninh thân thiết (tức liên kết ở cấp độ thấp hơn liên minh) với Singapore và Indonesia. Nhưng các quan hệ hợp tác này chưa được trải qua thử thách kể từ Chiến tranh Triều Tiên, khi lính và thủy quân lục chiến Mỹ chống lại cuộc tấn công dữ dội của quân đội tq trên sông Áp Lục; nguy cơ chiến tranh với Trung Quốc khiến Mỹ phải cân nhắc kỹ lưỡng hơn về việc tôn trọng các thỏa thuận an ninh của mình.

Một hiệp ước quân sự khả thi duy nhất khác trong khu vực là "Hiệp ước phòng vệ 5 bên" giữa Australia, Anh, New Zealand, Malaysia và Singapore ký kết năm 1971. Năm quốc gia đã thống nhất tham vấn lẫn nhau trong trường hợp bị gây hấn từ bên ngoài nhằm vào bán đảo Malaysia. Nhưng điều đó không có nghĩa là các quốc gia châu Á không quan tâm đến phòng thủ: ngân sách quân sự đang gia tăng nhanh chóng. Chi tiêu quốc phòng của Trung Quốc sẽ tăng gần gấp đôi sau 3 năm, trong khi bình quân các quốc gia Đông Nam Á đã tăng chi tiêu quốc phòng 13,5% trong năm 2011, và tổng chi tiêu ngân sách quốc phòng của châu Á sẽ vượt châu Âu lần đầu tiên trong năm nay. Điều đó cho thấy các quốc gia châu Á sẽ càng khó gần nhau hơn.

Đối với ASEAN, tổ chức chính trị quan trọng hàng đầu tại khu vực Đông Á, cũng đang rất căng thẳng bởi sự trỗi dậy của Trung Quốc. Được thành lập từ năm 1967 với mục tiêu mang đến tình đoàn kết trong khu vực nhưng ASEAN rõ ràng chưa phải là một hiệp ước phòng thủ: các thành viên nhất chí không tấn công lẫn nhau (nhưng thực tế họ đã đôi lần phá vỡ cam kết, mới đây nhất là vào năm 2008 và 2011, khi quân đội Campuchia và Thái Lan đụng độ sau những tranh chấp về chủ quyền ngôi đền nằm giữa biên giới hai nước). Trong một hội nghị thường niên vừa diễn ra vào tháng 7 tại Campuchia, lần đầu tiên trong lịch sử ASEAN đã không đưa ra được thông cáo chung, nguyên nhân có thể là do sự can thiệp của Trung Quốc với tham vọng bảo vệ các tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông.

Vai trò trung tâm hiện nay của Trung Quốc với tư cách là đối tác thương mại lớn nhất của hầu hết các quốc gia trong khu vực cũng đồng nghĩa, cho dù lo ngại về sức mạnh quân sự ngày càng lớn mạnh cùng với những tuyên bố mạnh miệng của Trung Quốc, các quốc gia láng giềng đều muốn tránh những rủi ro cho nền kinh tế nước mình khi đối đầu trực tiếp vơi Bắc Kinh. Nhưng Trung Quốc cũng đang cảm thấy dễ bị tổn thương. Chu Phong (Zhu Feng), phó giám đốc Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và Quốc tế tại Đại học Bắc Kinh, năm 2009 từng miêu tả Trung Quốc là "một cường quốc mới nổi đơn độc" - ý nói đây là một quốc gia chỉ có liên minh duy nhất trong số 14 nước láng giềng là với Triều Tiên.

Nhưng điều đó không có nghĩa là không có những điểm sáng. Indonesia, nền dân chủ mới trong khối ASEAN, đã dần từ bỏ sự ác cảm với Trung Quốc - trong nhiều thập niên trước năm 2000, nước này thậm chí còn cấm nhập khẩu các ấn bản được viết bằng tiếng Hoa. Myanmar đang tự do hoá. Và bất chấp việc Trung Quốc tiếp tục khẳng định chủ quyền đối với Đài Loan, hai bên đã cải thiện quan hệ kể từ khi Mã Anh Cửu lên nắm quyền năm 2008. Nhưng sự thiếu lòng tin sẽ đồng nghĩa với việc một cuộc đụng độ khu vực nếu xảy ra sẽ xóa sạch các thành tựu kinh tế đạt được.

ĐÌNH NGÂN

Wednesday, 29 August 2012

Chuyện biển Đông vẫn còn “nhạy cảm”

Vấn đề biển Đông đã trở thành một vấn đề quốc tế khi nó được đem ra bàn thảo ở Hội nghị Diễn đàn Khu vực ASEAN lần thứ 17 (ARF 17). Ảnh: TTXVN

Trong vài năm qua, Trung Quốc có tới 36 luận án tiến sĩ về biển Đông, Việt Nam chưa có. Chính phủ nên có những học bổng khuyến khích nghiên cứu sinh làm luận án về lĩnh vực này.

Khoảng 50 học giả, chuyên gia trong các lĩnh vực công pháp quốc tế, ngoại giao, lịch sử và quân sự đã gặp nhau tại hội thảo quốc gia lần thứ hai về biển Đông, do Bộ Ngoại giao và Học viện Ngoại giao tổ chức tại Hà Nội ngày 26-4. Chủ đề của hội thảo lần này là Tranh chấp chủ quyền tại biển Đông: Lịch sử, địa chính trị và luật pháp quốc tế.

Kể từ hội thảo lần đầu tiên ngày 17-3-2009, hai năm qua, tình hình trên biển Đông tiếp tục diễn biến phức tạp. Trong suốt thời gian này, Trung Quốc cũng tiếp tục tăng cường sức mạnh hải quân, xây dựng căn cứ trên phần đảo họ chiếm hữu, ra lệnh cấm đánh bắt cá...

Khu vực hóa và quốc tế hóa

Theo ông Đặng Đình Quý, Chủ nhiệm Chương trình Nghiên cứu biển Đông của Học viện Ngoại giao, các nước có liên quan trực tiếp tới tranh chấp đều thực hiện một số biện pháp chung như củng cố hải quân, tăng cường sự hiện diện trên thực địa; củng cố cơ sở lịch sử, pháp lý; tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế. Bản thân Việt Nam cũng đã nỗ lực quốc tế hóa vấn đề biển Đông thông qua việc thúc đẩy sự tham gia của ASEAN, nộp báo cáo ranh giới thềm lục địa và tổ chức hai hội thảo quốc tế.

Ông Quý nhấn mạnh sự “khởi sắc” của hoạt động nghiên cứu, hội thảo trong hai năm qua, ở cả Việt Nam và trên diễn đàn quốc tế: “Số bài viết về biển Đông tăng gấp bội. Số người nói công khai về những vấn đề tại biển Đông cũng tăng lên gấp nhiều lần. Nếu như trước 2008, hằng năm ở khu vực Đông Nam Á chỉ có Hội thảo kiểm soát xung đột ở Biển Đông ở Indonesia và một số ít hội thảo khác chỉ nói về hợp tác, thì trong năm 2009-2010, số hội thảo về biển Đông tăng nhanh. Trung Quốc, Malaysia, Philippines, Indonesia, Singapore… đều có tổ chức hội thảo quốc tế”. Tư liệu của một học giả khác cho hay cả Mỹ, Nhật cũng đã mở hội thảo quốc tế liên quan.

Nguyên Phó Thủ tướng phụ trách kinh tế đối ngoại Vũ Khoan đưa ra một số nhận xét có tính chất đánh giá khái quát tình hình biển Đông hai năm qua. Ông cho rằng có năm thay đổi chủ yếu, chẳng hạn, từ chỗ là tranh chấp chủ quyền giữa một số nước trong khu vực, vấn đề biển Đông đã trở thành một vấn đề quốc tế, khi nó được đem ra bàn thảo ở Hội nghị Diễn đàn Khu vực ASEAN lần thứ 17 (ARF 17), với sự xuất hiện của nhân tố mới là Mỹ. Thái độ của ASEAN cũng thay đổi, có sự phân hóa rõ nét thành hai khối quốc gia - quan tâm và ít quan tâm tới biển Đông. Đặc biệt là sự thay đổi của Trung Quốc. “Có vẻ như họ hay thay đổi chứ không “nhất thành bất biến”. Chẳng hạn, gần đây, họ sử dụng Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982 nhiều hơn, trước kia thì tránh né” - ông Vũ Khoan nhận định.

Quan tâm đầu tư cho con người

Hai năm qua, ở Việt Nam, số người tham gia nghiên cứu, số chương trình nghiên cứu, số lượng bài viết về biển Đông tăng lên đáng kể so với trước. Mặc dù vậy, ý kiến lạc quan nhất tại hội thảo 26-4 cũng không thể khẳng định rằng Việt Nam đã “mạnh” trong lĩnh vực này. Lực lượng chuyên gia trong các lĩnh vực liên quan tới biển Đông (cổ sử Trung Quốc và Việt Nam, công pháp quốc tế, địa chính trị…) vẫn “đếm được trên bàn tay”; các bài viết đa phần vẫn là “nói cho nhau nghe” vì không được đăng tải trên tạp chí chuyên ngành, có uy tín của nước ngoài. Đây là nhận định chung của nhiều học giả tham dự hội thảo lần này.

Tháng 3-2009, nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc từng đưa ra đề nghị: “Chính phủ nên thực hiện “bốn hóa” trong vấn đề biển Đông: xã hội hóa, công khai hóa, quốc tế hóa và phi nhạy cảm hóa”. Nhìn lại tình hình hai năm qua, ông Nguyễn Xuân Diện, Tiến sĩ ngành Hán Nôm, cho rằng ta “mới quốc tế hóa được một nửa” - tức là đưa được vấn đề ra các diễn đàn, hội nghị quốc tế nhưng không có lượng bài viết dày đặc trên tạp chí quốc tế như học giới Trung Quốc. Còn các khía cạnh xã hội hóa, công khai hóa và phi nhạy cảm hóa thì chưa cải thiện. Gần 100% chuyên gia, học giả tham dự hội thảo đều yêu cầu được ẩn danh.

Hội thảo nhất trí với một số ý kiến đề nghị đẩy mạnh nghiên cứu, nhất là nghiên cứu cơ sở pháp lý làm luận cứ cho đàm phán về biển Đông; tích cực quốc tế hóa vấn đề; duy trì hòa bình, ổn định và hợp tác trong khu vực; đặc biệt là phải đầu tư cho con người. Một học giả nêu so sánh: Trong vài năm qua, Trung Quốc có tới 36 luận án tiến sĩ về biển Đông, Việt Nam chưa có, nên chăng Chính phủ có những học bổng khuyến khích nghiên cứu sinh làm luận án về lĩnh vực này?

Ban tổ chức (Học viện Ngoại giao phối hợp với Bộ Ngoại giao Việt Nam) bày tỏ hy vọng sang năm, tới hội thảo lần thứ ba, số lượng công trình, bài viết nghiên cứu của học giới Việt Nam về biển Đông sẽ tăng thêm nhiều, với nhiều cái mới hơn.

Biển Đông vẫn diễn biến phức tạp

Tháng 3-2009: Xảy ra vụ năm tàu của Trung Quốc khiêu khích tàu Impeccable của Mỹ.

Tháng 5-2009: Việt Nam, Malaysia nộp báo cáo chung về ranh giới thềm lục địa; Trung Quốc phản đối, lần đầu tiên công khai yêu sách “đường lưỡi bò”.

Tháng 3-2010: Có tin Trung Quốc nâng vấn đề biển Đông thành “lợi ích cốt lõi”.

Tháng 7-2010: Việt Nam tổ chức thành công Hội nghị Diễn đàn Khu vực ASEAN lần thứ 17 (ARF 17), tại đó 14/27 quốc gia có phát biểu về biển Đông, trong đó có Mỹ.

Tháng 3-2011: Tàu Trung Quốc xua đuổi tàu thăm dò của Philippines ở bãi Cỏ Rong…

ĐOAN TRANG

Sunday, 26 August 2012

Tiến trình xung đột trên Biển Đông


Căng thẳng trên Biển Đông đang phát triển chỉ theo một hướng. Trung Quốc và các quốc gia Đông Nam Á có yêu sách chủ quyền mâu thuẫn dường như đã bắt đầu một quá trình xung đột. Dù vẫn còn ở mức thấp nhưng xác suất xung đột nổ ra đang trên đà tăng.

Quỹ đạo hiện tại là “thua-thua-thua” đối với tất cả bên liên quan, kể cả Trung Quốc, Đông Nam Á lẫn các nước thuộc bên thứ ba trong Vành đai Thái Bình Dương như Mỹ – vốn dĩ có quyền lợi lớn nếu Biển Đông được hòa bình. Vào thời điểm này, trọng tâm không nên là giải quyết các yêu sách đối kháng nhau. Thay vì thế, giới ngoại giao phải cố gắng hạ nhiệt và làm sao để các bên đều tiến hành các biện pháp xây dựng lòng tin, nhằm đảm bảo hòa bình và ổn định trong khu vực. Chỉ khi nào những cái đầu nóng đã nguội đi, thì các nước có liên quan mới có thể chuyển sự chú ý sang việc giải quyết những vấn đề dài hạn hơn, về chủ quyền và quyền tài phán của các đảo trên Biển Đông.

Lịch sử 40 năm tranh chấp trong khu vực đã có sự leo thang đều đều, xen kẽ với những cuộc xung đột mà thường là nhanh chóng được kiềm chế. Căn cứ vào “đường 9 đoạn” được xác định mơ hồ (giảm từ 11 đoạn năm 1953 xuống còn 9 đoạn), Trung Quốc ra yêu sách đòi chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cùng vùng biển lân cận, theo Công ước LHQ về Luật Biển. Bên kia, đại diện là Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), gồm có Brunei, Malaysia, Philippines và Việt Nam – những nước này đưa ra yêu sách khiêm tốn hơn, nhưng cũng mâu thuẫn, chồng lấn lên yêu sách của nhau và của Trung Quốc.

Lần leo thang xung đột gần đây nhất bắt đầu từ vụ đối đầu giữa Trung Quốc và Philippines quanh khu vực bãi cạn Scarborough. Cũng đã có những lời mời thầu quốc tế mâu thuẫn nhau của Trung Quốc và Việt Nam, mời chào thăm dò dầu khí trong khu vực Biển Đông mà hai nước đang tranh chấp. Các nỗ lực của Philippines và Việt Nam nhằm giành được sự ủng hộ của đối tác ASEAN tại cuộc họp bộ trưởng ngoại giao gần đây, đã đưa đến việc ASEAN không thể ra được thông cáo chung – lần đầu tiên trong lịch sử 45 năm của tổ chức này có chuyện như vậy.

Campuchia, Chủ tịch ASEAN năm 2012, từ chối nhắc đến tranh chấp trên Biển Đông, rõ ràng đã cho thấy sự tác động không lấy gì làm tế nhị lắm của Trung Quốc. Nhưng nhờ có hoạt động ngoại giao con thoi của vị ngoại trưởng mạnh mẽ của ASEAN, ông

Marty Natalegawa, ASEAN đã đạt được một “lập trường chung” để giữ thể diện. Lập trường này nhắc lại sáu nguyên tắc tuân theo tuyên bố về cách ứng xử và vào Luật Biển. Tuy nhiên, tuyên bố chung của ASEAN thì vẫn chưa được đưa ra.

Sau khi Việt Nam phê chuẩn luật biển vào tháng 6-2012, tuyên bố chủ quyền và quyền tài phán đối với quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa trên Biển Đông, Trung Quốc đã phản đối cực lực và đã khiến cho tình hình căng thẳng thêm bằng việc tuyên bố các bước để chủ động quản lý các hòn đảo tranh chấp, bãi ngầm Macclesfield (Trung Quốc gọi là quần đảo Trung Sa – ND), cũng như toàn vùng biển 772.000 dặm vuông (tương đương gần 2 triệu km vuông – ND) nằm trong “đường 9 đoạn”. Tam Sa – hòn đảo nhỏ diện tích 1,5 km2 nằm ở vùng tranh cãi trên Biển Đông – đã vừa được tuyên bố là một thành phố có chính quyền địa phương chịu trách nhiệm cai quản khu vực. Đại biểu quốc hội cùng một viên thị trưởng đã được bầu chọn, và chính quyền Trung Hoa công bố kế hoạch đặt một đơn vị đồn trú của Quân đội Giải phóng Nhân Dân (PLA) ở trên đảo này để giám sát – và nếu cần thì bảo vệ – việc thực thi chủ quyền của Trung Quốc trong khu vực.

Các diễn biến đó chỉ làm căng thẳng thêm leo thang, không phục vụ cho những lợi ích chiến lược lớn hơn của Trung Quốc, cũng chẳng có ích gì cho các nước Đông Nam Á có yêu sách chủ quyền.

Những hành động gần đây của Trung Quốc trên Biển Đông chắc chắn sẽ phá hoại một cách nghiêm trọng khả năng họ gây ảnh hưởng lên khu vực và thế giới trong những vấn đề quan trọng hơn. Ví dụ, sức mạnh kinh tế của Trung Quốc phụ thuộc một phần vào mức độ hội nhập kinh tế của họ với Đông Nam Á, góp phần tạo ra những mạng lưới sản xuất mang tính cạnh tranh toàn cầu. Sự hội nhập đó phụ thuộc vào việc xây dựng được quan hệ song phương hữu hảo với các nước láng giềng, và giờ đây nó đang bị phá hoại.

Trung Quốc cũng đã có vài người bạn trong khu vực. Trong một diễn văn đọc hồi năm ngoái, Phó Thủ tướng Lý Khắc Cường (Li Keqiang) – người mà theo dự kiến sẽ trở thành thủ tướng tiếp theo của Trung Quốc – tuyên bố, Trung Quốc muốn đảm bảo với thế giới rằng họ có ý định hợp tác với các nước khác để làm dịu bớt sự trỗi dậy như một siêu cường toàn cầu của họ. Quan điểm về sự trỗi dậy hòa bình của Trung Quốc vốn là hòn đá tảng trong chiến lược đối ngoại của Bắc Kinh. Thật không may là các nước láng giềng Đông Nam Á lại thấy hành động của Trung Quốc chẳng đi đôi với những luận điệu hoa mỹ của họ.

Bản thân Việt Nam và Phlippines, bằng những hành động khiêu khích của chính họ, cũng không phải là hoàn toàn vô tội trong hàng loạt sự cố gần đây. Tuy nhiên, cũng không cần phải nhắc họ rằng, đối đầu với Trung Quốc chẳng có lợi gì cho họ cũng như cho phần còn lại của Đông Nam Á.

Đà phát triển kinh tế đầy ấn tượng của khu vực trong hai thập niên qua đã hưởng lợi rất lớn từ cỗ máy tăng trưởng Trung Quốc. Những khoản đầu tư lớn đã được rót vào mạng lưới sản xuất đang phát triển, và quan hệ hữu hảo với Trung Quốc, nếu được duy trì, còn hứa hẹn nhiều nữa. Quan hệ xấu đi có thể gây rủi ro. Quan trọng hơn, các nước Đông Nam Á đã nhận ra sự nguy hiểm của bất kỳ cuộc xung đột có vũ trang nào với Trung Quốc – xung đột ấy có thể nhân rộng nếu Mỹ bị kéo vào cuộc chiến.

Cuối cùng, rủi ro xung đột ngày càng gia tăng không hề có lợi cho cộng đồng quốc tế, đặc biệt là cho những nước phụ thuộc vào hoạt động hàng hải bình yên trên Biển Đông, và những nước nằm trong Vành đai Thái Bình Dương. Nền kinh tế toàn cầu vốn dĩ đã phải chịu đựng vô vàn khó khăn, sẽ không thể chịu thêm một sự bất định nữa.

Tất nhiên, chi phí tiềm ẩn của xung đột, đối với khu vực và thế giới, vượt xa bất kỳ lợi ích kinh tế tiềm năng nào có thể có được nhờ đáy biển – phần lớn các lợi ích này chưa bao giờ được xác định rõ. Không còn là chuyện băng cháy và nguồn cá, tranh chấp Biển Đông giờ đây ngày càng bị lôi kéo bởi ý kiến công luận ở mỗi nước liên quan, mà công luận thì lại bị kích động bởi những vận động hành lang của phe quân sự và tình cảm dân tộc chủ nghĩa mạnh mẽ.

Lùi khỏi miệng vực sẽ là có lợi cho tất cả mọi người. Nhưng việc này phải được thực hiện theo một cách tạo ra sự tin cậy lẫn nhau. Sự leo thang kiểu ăn miếng trả miếng hiện nay giữa Trung Quốc và hai quốc gia ASEAN có yêu sách chủ quyền khác – Việt Nam và  Phlippines – cần phải chấm dứt, dù rất khó, và thậm chí cần thay đổi hoàn toàn. Cần đi kèm với một loạt hành động được “biên đạo” cẩn thận để dần dần tháo gỡ các lập trường hiện nay, theo một cách có thể thỏa mãn các cử tri của mỗi nước.

Với thành công gần đây của mình trong hoạt động ngoại giao con thoi, ngoại trưởng Natalegawa của Indonesia rất có thể sẽ là người luồn kim (nguyên văn: thread the needle, nghĩa bóng là tìm đường lách qua các quan điểm đối kháng, đối lập nhau). Có lẽ ông sẽ được một nhóm nhỏ những chính khách có uy tín quốc tế hỗ trợ, để ông thực hiện ngoại giao con thoi nhằm làm trung gian hòa giải ba nước chính có yêu sách chủ quyền: Trung Quốc, Philippines và Việt Nam. Ủy nhiệm thư rất được ca ngợi gần đây của ông, với tư cách nhà ngoại giao, đã khiến ông giành được sự tin cậy của cả hai bên. Hơn thế nữa, cách tiếp nhận như của ông Natalegawa có thể làm thỏa mãn Bắc Kinh, vốn dĩ rất miễn cưỡng, không muốn phải đàm phán đa phương về vấn đề Biển Đông trong khi vẫn đang phải sắp xếp một cuộc thay đổi nhân sự tập thể (nguyên văn: a collective stand-down, cuộc rút lui tập thể khỏi vị trí lãnh đạo, chỉ sự thay đổi nhân sự lãnh đạo sau Đại hội Đảng ở Trung Quốc – ND).

Nhưng đừng lầm. Năng lực lãnh đạo và lòng can đảm thực sự cần phải đến từ chính các nước có yêu sách chủ quyền. Trong tình hình có nhiều lợi ích lớn liên quan đến khu vực, chúng ta hãy hy vọng rằng nhà lãnh đạo như thế sắp xuất hiện.

Tác giả: Vikram Nehru là nghiên cứu viên cao cấp tại Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, thuộc Quỹ Hòa bình Quốc tế Carnegie (Carnegie Endowment for International Peace).


Tác giả: Vikram Nehru
Người dịch: Đỗ Quyên

Nguồn: National Interest

Đại Họa Mất Nước