Showing posts with label Vinashin. Show all posts
Showing posts with label Vinashin. Show all posts

Wednesday, 19 September 2012

Thực trạng tham nhũng: Lớn thành bé, nặng thành nhẹ


Tham nhũng được khẳng định ngày càng tăng về mức độ và thiệt hại song, số tài sản thu hồi ít, người vi phạm chủ yếu xử lý hành chính. Thường vụ Quốc hội yêu cầu Chính phủ có giải pháp đột phá để thay đổi thực trạng tồn tại nhiều năm qua.

Báo cáo trước Ủy ban Thường vụ Quốc hội về công tác phòng, chống tham nhũng năm 2012, Tổng thanh tra Chính phủ Huỳnh Phong Tranh cho biết đã có 44 trường hợp người đứng đầu bị xử lý do thiếu trách nhiệm để xảy ra tham nhũng (giảm 34% so với cùng kỳ năm trước). Trong đó, 9 người đã xử lý hình sự, 31 người bị kỷ luật.

Qua thanh tra phát hiện sai phạm, Thanh tra Chính phủ đã kiến nghị thu hồi về ngân sách nhà nước hơn 6.480 tỷ đồng, trên 1.290 ha đất nhưng mới thu hồi được hơn 140 tỷ đồng...

Cũng theo báo cáo của Chính phủ, đến đầu tháng 9, công an đã phát hiện hơn 800 vụ với trên 1.700 người vi phạm pháp luật về tham nhũng và chức vụ (tăng hơn gấp đôi cả về số vụ và số đối tượng so với cùng kỳ năm 2011). Số vụ tham nhũng được khởi tố, điều tra, truy tố năm 2012 đều tăng hơn so với cùng kỳ năm trước, trong đó, khởi tố mới 222 vụ, 470 bị can (so với cùng kỳ năm trước tăng 80 vụ và 224 bị can). Tòa án các cấp đã xét xử sơ thẩm gần 170 vụ, 340 bị cáo về các tội danh tham nhũng, trong đó tỷ lệ tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng chiếm hơn 44% (năm 2011 tỷ lệ này là 31,7% )...

Công tác phòng, chống tội phạm tham nhũng tuy được ngành thanh tra cho là đạt được kết quả tích cực, song tình hình tội phạm tham nhũng chưa có dấu hiệu giảm, vẫn diễn ra phức tạp về tính chất cũng như mức độ thiệt hại; đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng, tài chính, xây dựng cơ bản, quản lý đất đai và trong các tập đoàn, tổng công ty nhà nước làm thất thoát tài sản của Nhà nước, gây bức xúc dư luận xã hội. Số lượng vụ án, vụ việc về tham nhũng được phát hiện và điều tra chưa tương xứng với thực tế tham nhũng xảy ra.

Là cơ quan thẩm tra, Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Nguyễn Văn Hiện nhận xét, cũng như các năm trước, năm 2012, qua công tác thanh tra, kiểm toán phát hiện nhiều sai phạm, thất thoát về tiền, tài sản lớn, nhưng hầu hết là kiến nghị xử lý kỷ luật, hành chính; số vụ tham nhũng chuyển cơ quan điều tra xử lý hình sự rất ít, tiến độ chậm.

Số vụ án tham nhũng được phát hiện và xử lý năm 2012 tăng nhưng chưa tương xứng với tình hình thực tế; số tài sản, đất đai sai phạm rất lớn nhưng thu hồi được còn rất ít. Một số vụ án lớn, gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng nhưng lại không phát hiện được hành vi tham nhũng hoặc ban đầu khởi tố, điều tra về hành vi tham nhũng nhưng sau đó lại chuyển sang các tội danh khác nhẹ hơn. Nhiều vụ án tham nhũng được xét xử dưới khung hình phạt, cho hưởng án treo.

"Thực trạng xử lý không đúng pháp luật đối với một số vụ án có biểu hiện tham nhũng hiện nay gây bất bình, bức xúc, chưa tạo được lòng tin của nhân dân vào công cuộc đấu tranh chống tham nhũng", ông Hiện nói.

Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học và Công nghệ Phan Xuân Dũng đặt câu hỏi về sự chênh lệch lớn giữa con số sai phạm và thu hồi: "Sai phạm và kiến nghị thu hồi lên tới gần 6.500 tỷ đồng nhưng tại sao chỉ thu về được 141 tỷ đồng, chỉ bằng 1/46?". Cùng chung thắc mắc, Phó chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu chất vấn, phải chăng ở đây có thực trạng biến vụ tham nhũng lớn thành bé, tôi nặng thành tội nhẹ...

Lý giải về điều này, Phó tổng Thanh tra Trần Đức Lượng cho hay, đặc điểm năm 2012 khác các năm trước đó. "Năm 2012, khả năng hoàn trả của chủ sở hữu rất khó. Ví dụ liên quan tới sai phạm ở Tập đoàn công nghiệp tàu thủy VN (Vinalines), tổng sai phạm gần 500 tỷ đồng nhưng rất khó thu hồi; hay các doanh nghiệp góp vốn cho đầu tư bất động sản, chứng khoán, góp vào mất luôn nên không có để hoàn trả.

"Việc chứng minh yếu tố vụ lợi, ví dụ như trong mua sắm tài sản đã qua sử dụng, đặc biệt là mua tài sản, thiết bị từ nước ngoài là rất khó khăn. Dù cảm nhận của thanh tra, kiểm toán, người dân là có", ông Lượng nói.

Trong khi đó, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Phan Trung Lý lại "có cảm giác" báo cáo của Chính phủ giống năm trước mà không rút ra vấn đề đặc trưng, vấn đề gì tồn tại. "Kiến nghị nhiều, thu hồi ít. Năm trước nêu ra, năm nay lại nêu lên, lại đặt câu hỏi, không ai trả lời, không ai có biện pháp thì năm sau lại lặp lại, không biến chuyển", ông Lý nhận xét.

Ông đề nghị cần nhận diện được thực tế tham nhũng ở nước ta ở những dạng nào và chọn ra giải pháp đột phá.

Cùng chung nhận định, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng An ninh Nguyễn Kim Khoa cho rằng, nếu công tác phòng, chống tham nhũng vẫn cứ đặt ra phương hướng, nhiệm vụ chung chung mà không đi sâu vào một nhiệm vụ cụ thể thì không thể hiệu quả.

Liên quan tới việc đánh giá người dân "đồng tình, tiếp tay cho hành vi tiêu cực, tham nhũng" trong báo cáo của Chính phủ, Phó chủ tịch Quốc hội Huỳnh Ngọc Sơn cho rằng cần xem lại. "Đánh đồng người dân tiếp tay, đánh giá như thế rất nặng nề cho dân. Vì các ông ăn nên phải đút lót. Đấy không phải khuyết điểm của người dân, không nên đổ lỗi cho người dân", Phó chủ tịch Quốc hội nói.

Theo Thanh tra Chính phủ, đã có 9 bộ, ngành, cơ quan trung ương và 19 địa phương hoàn thành 100% kê khai tài sản, thu nhập năm 2011. Hai trường hợp được kết luận kê khai không trung thực và một người đã bị kỷ luật. Cũng trong năm 2012, 18 cá nhân và tập thể đã nộp lại quà tặng với số tiền hơn 360 triệu đồng. Việc kê khai được Thanh tra Chính phủ nhìn nhận còn hình thức, tác dụng phòng ngừa tham nhũng còn hạn chế, hiệu quả thấp. Việc nộp lại quà tặng là cá biệt, không phản ánh đúng thực trạng. Hiện tượng lợi dụng dịp lễ, tết và những phong tục, tập quán để biếu xén vẫn diễn ra khá phổ biến nhưng chưa có biện pháp ngăn chặn hiệu quả.

Theo Tổng thanh tra Huỳnh Phong Tranh, do bản báo cáo mới tổng hợp số liệu đến tháng 8 nên chưa đầy đủ, Thanh tra Chính phủ sẽ bổ sung để trình Quốc trong kỳ họp thứ 4 diễn ra vào cuối tháng 10 tới.

Nguyễn Hưng


Bức xúc vụ án tham nhũng nghiêm trọng được làm nhẹ

Một số vụ án lớn, gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng đối với tài sản của Nhà nước nhưng lại không phát hiện được hành vi tham nhũng hoặc ban đầu khởi tố, điều tra về hành vi tham nhũng nhưng sau đó lại chuyển sang các tội danh khác nhẹ hơn.

Đó là một trong những nhận định của Uỷ ban Tư pháp của Quốc hội về báo cáo công tác phòng, chống tham nhũng năm 2012 của Chính phủ.

Thảo luận về báo cáo này tại phiên họp chiều nay 19/9, các câu hỏi được đặt ra : tại sao phát hiện nhiều mà điều tra, truy tố, xét xử còn ít? Tại sao sai phạm về tiền và đất đai nhiều mà kết quả thu hồi về cho nhà nước còn hạn chế?...

Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Tư pháp chỉ ra: “…việc xử lý nghiêm minh hành vi tham nhũng, nhất là các vụ án tham nhũng đặc biệt lớn chưa được quan tâm đúng mức, vẫn còn nhiều người có hành vi tham nhũng với tài sản có giá trị lớn nhưng chỉ bị xử phạt kỷ luật hoặc phạt tù nhưng cho hưởng án treo”.

Đặc biệt, ủy ban này nhận định nhiều vụ án, bị can trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã được thay đổi sang tội danh nhẹ khác hơn.

“Thực tế cho thấy, một số vụ án lớn, gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng đối với tài sản của Nhà nước nhưng lại không phát hiện được hành vi tham nhũng hoặc ban đầu khởi tố, điều tra về hành vi tham nhũng nhưng sau đó lại chuyển sang các tội danh khác nhẹ hơn như tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gậy hậu quả nghiêm trọng, tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng… đã gây bất bình, bức xúc trong cán bộ, công chức, viên chức, đảng viên và quần chúng nhân dân” – theo báo cáo.

Xử lý trách nhiệm người đứng đầu
Các ủy viên Thường vụ cho rằng họ vẫn chưa thấy bức tranh rõ ràng về tình trạng tham nhũng trong báo cáo dễ lẫn lộn số liệu về các trường hợp tham nhũng, có dấu hiệu tham nhũng hay chỉ là kết quả hoạt động của các cơ quan có chức năng chống tham nhũng.

Theo Phó Chủ tịch QH Uông Chu Lưu, nhiều số liệu về số vụ không chứng minh được yếu tố vụ lợi để quy tội tham nhũng hay chỉ là tội phạm kinh tế, nhưng đều đưa vào báo cáo như thành tích chống tham nhũng khiến Quốc hội và người dân không phân biệt được.

Không đồng tình với bản báo cáo “chung chung” khi các cơ quan liên quan vẫn còn tâm lý “cả nể, dĩ hòa vi quý”, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thúc giục Chính phủ phải đạt được “đột phá” trong phương hướng chống tham nhũng.

Chủ nhệm UB Kinh tế Nguyễn Văn Giàu cho rằng, nên chọn khâu đột phá cho năm 2013 là “xử lý trách nhiệm người đứng đầu”.

Phó Chủ tịch Uông Chu Lưu cũng cho rằng cần tăng cường hiệu quả hoạt động của các cơ quan có chức năng phòng, chống tham nhũng.

Liên quan đến bản báo cáo, nhiều ý kiến thảo luận chưa đồng tình nhận định cho rằng việc tham gia của các tổ chức xã hội, doanh nghiệp và người dân trong phòng, chống tham nhũng vẫn còn một số hạn chế; một bộ phận không nhỏ doanh nghiệp, người dân chưa có hành động quyết liệt trong việc đấu tranh với các biểu hiện tiêu cực, tham nhũng, ngược lại còn đồng tình, tiếp tay cho hành vi tiêu cực, tham nhũng để giành được lợi thế trong kinh doanh hoặc được “ưu tiên” giải quyết công việc.

Phó Chủ tịch QH Huỳnh Ngọc Sơn nói: “Dân không bao giờ muốn có tham nhũng, mà vì quan tham ‘đòi ăn’ mới giải quyết việc nên họ buộc lòng phải ‘cho ăn”.

Báo cáo này sẽ được Quốc hội xem xét tại kỳ họp thứ 4 vào cuối tháng 10 tới.



Saturday, 8 September 2012

Việt Nam cân nhắc cắt bớt một nửa các tập đoàn kinh tế


Nhà cầm quyền Việt Nam đang cân nhắc để cắt bớt phân nửa trong tổng số 13 tập đoàn kinh tế quốc doanh hiện đang là gánh nặng cho ngân sách nhà nước.


Bài báo của Petrotimes nguyên dạng “thô” bị đưa lên mạng, nay đã bị rút xuống.

Ðây là nội dung một bản tin có tựa đề “Chính phủ cân nhắc giảm 50% số tập đoàn kinh tế đang thí điểm” của báo Petrotimes hôm Thứ Năm, 6 tháng 9, 2012 còn ở dạng “thô,” tức là chờ một người có thẩm quyền tên Dũng đọc lại trước khi quyết định cho “đi” hay không.

Chính vì vậy, “tai nạn” do sơ ý đã làm cho bản tin này xuất hiện trên mạng Petrotimes ít giờ rồi bị lấy xuống.

Báo Petrotimes thuộc Tập Ðoàn Dầu Khí Việt Nam do Cựu Ðại tá Công an Nguyễn Như Phong (nguyên phó tổng biên tập tờ Công An Nhân Dân) làm tổng biên tập.

Trong khi đó, bản tin của 'chinhphu.vn' tường thuật phiên họp thường kỳ tháng 8, 2012 của chính phủ CSVN chỉ nhắc sơ đến “...dự án Luật Ðầu Tư công, các thành viên chính phủ đã thảo luận, làm rõ những vấn đề còn ý kiến khác nhau liên quan đến phạm vi điều chỉnh của luật; sự chồng lấn của phần đầu tư công với các luật hiện hành; về chương trình đầu tư công; việc lập, thẩm định, phê duyệt, quản lý các dự án đầu tư công; về dự án sử dụng các nguồn vốn hỗn hợp; về chủ đầu tư...”

Nếu phổ biến bản tin này, tờ Petrotimes sẽ mang tội “cầm đèn chạy trước ô tô” và chưa biết sẽ bị “cấp trên” xử như thế nào.

Bản tin của tờ Petrotimes nói rằng “...Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Vũ Ðức Ðam thừa nhận, chính phủ, mà trực tiếp thủ tướng chính phủ đã xem xét, rà soát lại nghiêm túc việc tổ chức lại các TÐKTNN (tập đoàn kinh tế nhà nước) theo hướng chỉ duy trì 5-7 tập đoàn có sức vóc, tiềm năng và trách nhiệm xã hội lớn. Theo đó, trách nhiệm được phân cho bộ chuyên môn, hoặc do thủ tướng chính phủ chỉ đạo tùy theo quy mô, mức độ ảnh hưởng đến số đông người dân, mang trọng trách xã hội hay điều tiết nền kinh tế vĩ mô...”

Như vậy các TÐKTNN chỉ “hoạt động trong những ngành kinh tế mũi nhọn, những lĩnh vực then chốt của nền kinh tế theo mục tiêu chiến lược phát triển của từng tập đoàn mà tư nhân và các thành phần kinh tế khác khó có thể thực hiện được do hạn chế về năng lực tài chính hoặc kinh nghiệm quản lý, là một trong những công cụ điều hành kinh tế vĩ mô của chính phủ.”

Các định chế tài trợ quốc tế, suốt nhiều năm qua, thúc hối thường xuyên chế độ Hà Nội cải tổ hay bãi bỏ hệ thống quốc doanh phần lớn “lãi giả, lỗ thật,” chỉ là gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Tổng Cục Thống Kê hồi đầu năm nói tính tới ngày cuối tháng 12, 2011, Việt Nam còn tới 4,715 công ty quốc doanh. Trong số này có 35 doanh nghiệp “tạm ngừng sản xuất,” 637 doanh nghiệp “chờ giải thể” và 210 doanh nghiệp “không xác minh được.”

Doanh nghiệp nhà nước được thành lập với vốn cấp của nhà nước thì phải có các văn bản hành chính mà “không xác minh được” thì thật vô cùng khó hiểu.

Ngày 20 tháng 6, 2012 báo chí ở Việt Nam loan tin rộng rãi dựa trên các con số do Tổng Cục Thuế cung cấp cho biết 70% doanh nghiệp ở Việt Nam thua lỗ trong quý I/2012. Bên cạnh tin này là tin gần 22,000 doanh nghiệp đã giải thể trong 6 tháng đầu năm nay. Nhưng nếu kể cả những công ty đã “ngừng hoạt động” hay đã chết mà không khai báo, gọi là “chết lâm sàng” thì tổng số có thể lên đến 80,000.

Tờ Petrotimes liệt kê ra danh sách 13 tập đoàn quốc doanh như sau:

1. Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT)

2. Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin)

3. Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PetroVietnam)

4. Tập đoàn Ðiện lực Việt Nam (EVN)

5. Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam (Vinashin)

6. Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex)

7. Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam (VRG)

8. Tập đoàn Tài chính-Bảo hiểm (Bảo Việt)

9. Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel)

10. Tập đoàn Hóa chất Việt Nam (Vinachem)

11. Tập đoàn Phát triển Nhà và Ðô thị Việt Nam (HUD Holdings)

12. Tập đoàn Công nghiệp Xây dựng Việt Nam (Songda)

13. Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex)

Trong số 13 tập đoàn “mũi nhọn” này, những số tiền thua lỗ rất lớn của chúng trong năm qua được lai rai nêu trên mặt báo.

Tập đoàn Than-Khoáng Sản (Vinacomin) lỗ hơn 8,000 tỉ đồng. Tập đoàn Ðiện Lực lỗ hơn 11 ngàn tỉ đồng sau nói lại là 8,146 tỉ đồng. Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Vinashin lỗ hơn 3,000 tỉ đồng mà đám cầm đầu đang ở tù với những bản án tối đa về “cố ý làm trái các quy định về quản lý kinh tế gây thiệt hại nghiêm trọng...” Tập đoàn Xăng dầu Petrolimex than lỗ tới 2,650 tỉ đồng chỉ trong quý 1/2011 nên nài nỉ xin “cơ chế đặc biệt.” v.v...

Những tập đoàn kia cũng đều có vấn đề.

Ngày 18 tháng 7, 2012 Kiểm Toán Nhà Nước họp báo cho hay phần lớn các tập đoàn, tổng công ty quốc doanh “sống nhờ vốn vay” lại còn ôm tiền đầu tư bừa bãi “ngoài ngành” dẫn đến thất thoát và thua lỗ.

Theo một bản tin ngày 29 tháng 5, 2012 trên báo Thanh Niên “Với vai trò đầu tàu nền kinh tế, chiếm 700,000-800,000 tỉ đồng vốn sở hữu nhà nước, nhưng từ năm 2006 đến nay, cơ chế giám sát tài chính lỏng lẻo, không chế tài, không phân rõ trách nhiệm chủ sở hữu vốn... khiến nhiều tập đoàn (TÐ) rơi vào nợ nần, thua lỗ.” Tại sao? Báo Thanh Niên nói vì “cha chung không ai khóc.”

Ðấy là hậu quả nhãn tiền xảy ra những vụ như Vinashin, Vinalines. Tập đoàn Sông Ðà thua lỗ nặng, không có tiền trả nợ ngoại quốc đã xin bộ chủ quản (Bộ Xây Dựng) “ứng cứu,” theo VNEconomy ngày 30 tháng 5, 2012.

Các cuộc họp báo của Tổng Thanh Tra Nhà Nước hay Kiểm Toán Nhà Nước CSVN đều có những lời phàn nàn về các sự “sai phạm” nghiêm trọng của đám quan chức cầm đầu hệ thống quốc doanh. Tuy vậy, rũ bỏ hết đám quốc doanh thì các quan lấy đâu ra “sân sau” để ăn hối lộ hay tham nhũng rút ruột? Ðây là cái chìa khóa của vấn đề mà người dân ở Việt Nam phải cong lưng gánh.

Các bản báo cáo chính trị ở mỗi kỳ đại hội đảng đều vẫn cả quyết “lấy quốc doanh làm chủ đạo” cho nền kinh tế.

Người Việt

Thursday, 6 September 2012

Khả năng Việt Nam phải nhờ đến sự trợ giúp của IMF


Trong một báo cáo công bố trên trang web của Uỷ ban Kinh tế Quốc hội Việt Nam ngày 5/9/2012, ủy ban này cho rằng Việt Nam có thể phải cần đến sự trợ giúp của Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF để tái cấu trúc hệ thống ngân hàng và phải nhanh chóng giải quyết nợ xấu, nợ quá hạn, nếu không kinh tế Việt Nam có nguy cơ trì trệ lâu dài.

Trong bản báo cào dày 298 trang, Uỷ ban Kinh tế Quốc hội đề nghị hai điều mà chính phủ cần làm ngay. Thứ nhất, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phải đưa ra các văn bản pháp lý rõ ràng về các hoạt động mua bán nợ, đặc biệt đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Theo Uỷ ban, đây là một yêu cầu « rất quan trọng » để giải quyết nợ xấu, nợ quá hạn.

Thứ hai, Uỷ ban Kinh tế Quốc hội Việt Nam đề nghị chính phủ thành lập một quỹ tái cấu trúc hệ thống ngân hàng. Quỹ này có thể được hình thành từ nguồn vốn vay từ IMF hoặc các quỹ quốc tế khác mà Việt Nam tham gia. Ngoài ra, quỹ tái cấu trúc hệ thống ngân hàng có thể sử dụng tiền tiết kiệm từ chi tiêu chính phủ hoặc từ việc bán trái phiếu của chính phủ. Uỷ ban Kinh tế Quốc hội Việt Nam thẩm định rằng cần phải huy động thêm ít nhất 12 tỷ đôla vào việc giải quyết nợ xấu, nợ quá hạn trong hệ thống ngân hàng Việt Nam.

Theo nhận định của hãng tin Bloomberg News hôm nay, 6/9/2012, chính phủ của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng hiện đang cố khôi phục sự tín nhiệm của Việt Nam sau vụ bắt giữ ông Nguyễn Đức Kiên, nhà tài phiệt sáng lập ngân hàng ACB, ngân hàng lớn thứ tư ở Việt Nam tính về giá trị, vào tháng trước.

Trước đó, công an cũng đã bắt giữ ông Lý Xuân Hải, tổng giám đốc ACB. Chỉ số thị trường chứng khoán của Việt Nam đã tuột dốc mạnh ngày 27/8/2012, vì người ta sợ rằng những vụ bắt giữ có thể là dấu hiệu cho thấy hệ thống tài chính Việt Nam thêm bất ổn định, trong khi Việt Nam hiện đã có mức nợ xấu cao nhất Đông Nam Á.

Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tỷ lệ nợ xấu của Việt Nam đã tăng từ 3,07% cuối năm 2011 lên 4,47% cuối tháng 5 vừa qua. Nhưng chính Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Nguyễn Văn Bình tháng 4 vừa qua nhìn nhận rằng tỷ lệ nợ xấu trên thực tế cao hơn con số chính thức, còn ngân hàng Mizuho thẩm định là có đến 20% nợ ở Việt Nam là nợ xấu.

Hãng tin Bloomberg News trích lời ông Peter Ryder, giám đốc điều hành công ty Indochina Capital ghi nhận : « Việt Nam nay đã đến mức cần phải tìm phương cách tái cấp vốn cho các ngân hàng và tái cấu trúc toàn diện hệ thống ngân hàng ». Tuy nhiên, ông Peter Ryder nghĩ rằng, Việt Nam nhờ IMF trợ giúp ngay mà không tính đến những giải pháp khác thì quả là điều rất đáng ngạc nhiên, vì người Việt Nam vẫn có truyền thống bảo vệ độc lập.

Theo Bloomberg News, bên cạnh việc giải quyết nợ xấu, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã từng tuyên bố sẵn sàng thúc đẩy việc sát nhập những ngân hàng yếu kém với nhau. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng đã ra lệnh cho các lãnh đạo ngành tiền tệ giải quyết tình trạng thiếu vốn vay, khiến hàng hàng ngàn công ty đã phải phá sản.

Nhưng như nhận định của Uỷ ban Kinh tế trong báo cáo nói trên, nguyên nhân sâu xa của những bất ổn hiện nay là do mô hình tăng trưởng của Việt Nam vẫn dựa quá nhiều vào vốn đầu tư, đặc biệt là đầu tư công và khu vực doanh nghiệp Nhà nước, khu vực hoạt động rất kém hiệu quả, nhưng vẫn được giao cho « vai trò chỉ đạo » nền kinh tế Việt Nam.

Thanh Phương


Việt Nam có thể phải xin IMF cứu trợ

Việt Nam đang đối mặt với nguy cơ phải xin cứu trợ từ Quỹ tiền tệ quốc tế IMF để giải quyết nợ xấu.

Hệ thống tài chính Việt Nam sẽ có thể cần đến gói vay cứu trợ khổng lồ để có thể khắc phục khó khăn
Như vậy Việt Nam sẽ là nền kinh tế lớn nhất Đông Á phải cầu viện tổ chức này từ sau những năm 1990.

Báo cáo kinh tế vĩ mô 2012 được Ủy ban Kinh tế của Quốc hội 'đặt hàng' và đăng tải trên trang web của ủy ban này ngày 4/9 cho thấy Việt Nam sẽ cần phải tái cơ cấu hệ thống ngân hàng và hành động thật nhanh để giải quyết khối nợ xấu.

Theo bản báo cáo dài gần 300 trang, hệ thống tài chính của Việt Nam có thể sẽ cần phải vay vốn cứu trợ từ 250 nghìn tỷ đồng (12 tỷ đôla) đến 300 nghìn tỷ đồng.

Tuy nhiên giới quan sát cũng đặt nghi vấn cho việc liệu chính phủ Việt Nam có thực sự lựa chọn cách cầu cứu IMF.

Ông Peter Ryder, giám đốc điều hành bộ phận quản lý quỹ và phát triển bất động sản của Indochina Capital, bình luận với hãng tin Bloomberg:

"Việt Nam đang ở trong tình thế phải tìm kiếm những con đường nhằm điều chỉnh vốn và tái cơ cấu nền móng của hệ thống ngân hàng. Tuy nhiên, đối với người Việt Nam, nhất là khi nhìn vào lịch sử độc lập mãnh liệt của họ, việc phải tìm đến IMF trước khi đã cạn kiệt những cách khác là một điều đáng ngạc nhiên."

Ngoài việc vay vốn IMF, nhóm kinh tế gia làm báo cáo còn gợi ý có thể phát hành trái phiếu thời hạn từ 3-5 năm, cắt giảm chi tiêu Nhà nước và thu hút vốn hoặc đầu tư từ các công ty nước ngoài.

Loại trái phiếu 3-5 năm này có thể sử dụng với mục đích huy động tiền dư thừa từ các ngân hàng thương mại chứ không phải để Ngân hàng Nhà nước mua lại và cần phải được trích từ việc cắt giảm khoản chi thường niên lên đến 20-21% GDP của ngân sách Nhà nước.

Bản báo cáo cho biết, nếu giảm tỷ lệ chi tiêu xuống mức cách đây 5-10 năm (16-17% GDP) thì có thể dư ra khoảng 3%, tức khoảng 70 nghìn tỷ đồng.

Ngân hàng Nhà nước cũng nên lập một công ty để mua nợ xấu. Tuy nhiên bản báo cáo cho rằng công ty này phải sử dụng nguồn vốn từ nước ngoài.

"Tỷ lệ nợ xấu và nợ quá hạn đang ở mức báo động, trong lúc mức dự trữ nợ xấu của Ngân hàng là không thích đáng", trích bản báo cáo.

Niềm tin đổ vỡ
Bloomberg trong tin ra ngày 6/9 nhận xét: "Chính phủ của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đang lao đao trong việc khôi phục lại niềm tin tại Việt Nam sau khi vụ bắt nhà tài phiệt (Nguyễn Đức Kiên) hồi tháng trước làm lộ ra tính mỏng manh của hệ thống tài chính, bị làm khốn đốn thêm bởi khối nợ xấu cao nhất Đông Nam Á."

"Tăng trưởng Việt Nam tụt xuống 4,4% trong nửa đầu năm so với mức 8,5% hồi năm 2007 khi các khoản vay bị đình trệ, kìm hãm doanh thu quốc gia và bẻ gãy khả năng giải cứu các ngân hàng của nước này."

Nợ xấu hiện tại đang ở mức 8,6%-10% theo công bố mới nhất của Ngân hàng Nhà nước.

HSBC trong báo cáo ngày 4/9 cho rằng, khối quốc doanh đóng vai trò lớn trong việc gieo rắc gánh nặng lên nền kinh tế.

Từ năm 2009, khối tín dụng rẻ khổng lồ được bơm vào các Tập đoàn Nhà nước đã đẩy tăng trưởng tín dụng tăng lên đến mức chóng mặt.

Tuy nhiên các Tập đoàn Nhà nước, với sự quản lý yếu kém, thống kê thiếu minh bạch và những sai phạm nghiêm trọng trong đầu tư đã dẫn đến kinh doanh không hiệu quả, kèm những khoản thất thoát vốn Nhà nước và những khối nợ khổng lồ, góp phần tăng khối nợ xấu.

Hiện tại, Việt Nam đang có kể hoạch cắt giảm khối nợ xấu xuống dưới 3% trước năm 2015, đồng thời Ngân hàng Nhà nước cho biết đã sẵn sàng để ép buộc các ngân hàng yếu kém sát nhập.

HSBC cho biết ngân hàng này tỏ ra khá lạc quan về nỗ lực của Chính phủ Việt Nam trong việc cải cách nền kinh tế nhưng cũng nhấn mạnh tính cần thiết của sự kiên nhẫn trong việc cải cách để dọn dẹp nợ xấu, đồng thời thiết lập một nền kinh tế đền đáp xứng đáng cho những hoạt động kinh doanh hiệu quả.

Friday, 31 August 2012

Sự trừng phạt của Việt Nam sẽ đi tới đâu?

Nguyễn Đức Kiên

Tiến sỹ Jonathan Pincus, cố vấn chương trình Việt Nam của trường Havard Kennedy, đã có bài viết với tựa đề "Đợt trấn áp của Việt Nam sẽ đi xa tới đâu?" trên trang blog Beyond Brics của báo Financial Times.

Thị trường tài chính của Việt Nam biến động mạnh tuần trước sau vụ bắt hai doanh nhân có tiếng tăm liên quan đến Ngân hàng thương mại Á Châu (ACB), một trong những ngân hàng thương mại lớn nhất Việt Nam.

Nguyễn Đức Kiên, người đồng sáng lập ACB và hiện vẫn đóng vai trò cổ đông bị bắt tại Hà Nội vào ngày 20/8.

Ba công ty mà ông Kiên sở hữu bị cho là đã mua chứng khoán ngân hàng bằng các khoản vốn sử dụng cho đầu tư bất động sản.

Ông Kiên được xem là người nổi tiếng tại Việt Nam với tư cách chủ của Câu lạc bộ bóng đá Hà Nội và đồng thời là chủ của công ty đang vận hành giải bóng đá trong nước.

Ông Kiên cũng được biết đến như là một người thân cận với phe của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Lý Xuân Hải, người từ nhiệm vị trí giám đốc điều hành ACB vào ngày 23/8, bị bắt trong cùng ngày vì tội "vi phạm quy định Nhà nước về quản lý kinh tế".

Trấn áp trên diện rộng
Tin đồn nổi lên ở Việt Nam rằng những vụ bắt bớ có liên quan đến xung đột chính trị phía bên trong Đảng Cộng sản và bằng chứng được tích lũy đang chỉ ra rằng một cuộc thanh lọc trên diện rộng với những sai phạm của các tập đoàn đang được tiến hành.

Những dấu hiệu đầu tiên của sự thay đổi đi kèm với vụ bắt ông Phạm Thanh Bình, Chủ tịch của Tập đoàn đóng tàu bị phá sản của Nhà nước vào năm 2010, Vinashin.

Ông Bình và tám lãnh đạo khác của Vinashin bị buộc tội đã sử dụng trái phép nguồn vốn Nhà nước vào hồi đầu năm này.

Vào tháng Năm, cảnh sát công bố lệnh bắt ông Dương Chí Dũng, Chủ tịch của Tập đoàn đóng tàu thua lỗ của Nhà nước Vinalines.

Mặc dù ông Dũng vẫn chưa bị bắt, chín lãnh đạo khác của Vinalines đã bị bắt và buộc tội sử dụng trái phép nguồn vốn Nhà nước.

Giới báo chí liên tục đưa tin về việc những nhà tài phiệt kém nổi tiếng hơn bị bắt, thường với tội danh vi phạm quy định ngành ngân hàng hoặc những sai phạm khác.

Tin đồn cũng xoay quanh vụ bắt bớ những lãnh đạo nổi tiếng của các tập đoàn khác.

Rõ ràng là không hề thiếu ứng cử viên ở đây.

Quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam cực kỳ yếu kém, và không ở đâu yếu kém bằng ngành ngân hàng.

Những người chủ ngân hàng đầu tư vào các ngân hàng nhỏ hơn và hàng loạt các quỹ cũng như các công ty đầu tư cho các doanh nghiệp liên quan vay nợ và thậm chí đươc quản lý trực tiếp bởi các cổ đông ngân hàng.

Một số tập đoàn Nhà nước đã chiếm vị trí trong các ngân hàng cổ phần hoặc tự mở ngân hàng riêng của mình và hướng các khoản vay về công ty con của mình.

Một trong những số này là các công ty cổ phần hợp tác mà ít nhất là chịu quản lý một phần bởi những lãnh đạo của Tập đoàn Nhà nước.

Sự sở hữu chéo và những khoản vay có liên quan đến nhau đã đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng tín dụng bất thưởng của Việt Nam, cũng như tỷ lệ khối nợ xấu cao ngất.

Chất lượng của vốn ngân hàng cũng là một điều đáng nghi vấn., vì những người chủ ngân hàng có những sở hữu và khoản vay ngầm từ chính quyền để đạt được yêu cầu vốn.

Một số những Tập đoàn Nhà nước đang bơi trong nợ.

Dựa theo thống kê của Bộ Tài Chính, nợ tại Tập đoàn điện EVN đã vượt qua mức 12,5 tỷ đôla trong năm 2010, thống kê gần nhất được công khai.

Tập đoàn xây dựng Sông Đà cũng đã báo cáo khoản nợ gấp chín lần giá trị tài sản trong cùng năm.

Hiện tại, Tập đoàn Sông Đà đang tiến hành tái cơ cấu với sự hậu thuẫn qua các khoản tiền được bơm vào từ Ngân hàng phát triển Á Châu.

Những ứng cử viên còn có Petrolimex, tập đoàn độc quyền về xăng dầu, và Tập đoàn phát triển Nhà và Đô thị.

Không hợp lý
Những tập đoàn Nhà nước ngập nợ và không sinh lời mang rắc rối đến cho các ngân hàng cho vay, vốn hầu hết là những ngân hàng thương mại của Nhà nước. Khi bụi đã được phủ sạch, họ cần đươc tái huy động vốn.

Vì vậy, Chính phủ có rất nhiều lý do để làm sạch ngành ngân hàng, cho dù điều này có nghĩa là đánh động các thế lực trong thị trường tài chính.
"Minh bạch và đáng tin cậy là hai yếu tố chính trong việc xác định và giảm sai phạm ngành ngân hàng cũng như rủi ro trong hệ thống."
Cũng không bất ngờ khi động thái đầu tiên của Chính phủ, đó là đưa vấn đề ra dưới dạng xử lý pháp luật, dù gì đi nữa đây vẫn là một Chính phủ đóng vai trò đặc vụ kiểm soát nền kinh tế ở các cấp Trung ương cho đến cấp tỉnh.

Tuy nhiên chỉ tội phạm hóa sự vi phạm đối với quy định ngành ngân hàng làm dấy lên hai giả thiết không hợp lý đối với Việt Nam:

Thứ nhất, điều này dựa trên giả thiết rằng Chính phủ, hoặc các cơ quan chính phủ không hề dính líu đến, hoặc ít nhất là ngấm ngầm liên quan đến trong việc xây dựng những mối quan hệ bất hợp pháp giữa các tổ chức tài chính và những hoạt động bất hợp pháp khác.

Thứ hai, điều này có nghĩa là việc vi phạm không được liệt vào đặc thù của những tổ chức tài chính lớn và nhỏ, đồng thời cho rằng những sai phạm có thể diễn ra mà không ảnh hưởng đến sự vận hành của cả hệ thống. Điều này có thể là quá lạc quan.

Minh bạch và đáng tin cậy là hai yếu tố chính trong việc xác định và giảm sai phạm ngành ngân hàng cũng như rủi ro trong hệ thống.

Việc xem những vấn đề này là như là vấn đề an ninh quốc gia sẽ không giúp thực hiện được những mục tiêu nói trên.

Câu hỏi ở đây là việc liệu có hay không các cử tri trong chính phủ ủng hộ sự thống kê nghiêm ngặt hơn, các chuẩn mực báo cáo cao hơn, cũng như việc liệu hệ thống báo chí lợi hại của Việt Nam có được bật đèn xanh để báo cáo tham nhũng ở cả khu vực tư doanh và quốc doanh hay không.

BBC

Thursday, 30 August 2012

Gậy ông đập lưng ông


Sức mạnh và sự tồn tại của một nhà nước độc tài phụ thuộc rất nhiều vào khả năng kiểm soát thông tin trong xã hội. Một mặt, hạn chế, bưng bít tất cả những thông tin trung thực nhưng bất lợi, mặt khác, lèo lái, hướng dẫn mạng lưới truyền thông lẫn hệ thống giáo dục, tuyên truyền…trong nước theo hướng có lợi cho chế độ, kể cả bóp méo, làm sai lệch sự thật, tạo ra những luồng thông tin dối trá và dối trá.
Nhà nước cộng sản Trung Quốc hay VN cũng không là ngoại lệ.
Với nhà cầm quyền VN, khả năng kiểm soát thông tin đó đã giúp họ tồn tại cho đến nay là hơn 6 thập kỷ, qua những giai đoạn khó khăn nhất. Ngay cả trong những ngày miền Bắc vật vã trong đói nghèo, chiến tranh và những sai lầm liên tiếp của công cuộc cải cách ruộng đất hay chiến dịch đánh phá phong trào Nhân văn giai phẩm; những ngày cuộc chiến tranh với Mỹ và miền Nam đang căng thẳng nhất; hoặc khi cả nước sắp đứng trước bờ vực của sự chết đói sau hơn 10 năm tiến hành nền kinh tế xã hội chủ nghĩa được áp dụng theo miền Bắc…
Khi còn kiểm soát được thông tin, kiểm soát được từ tư tưởng, tình cảm, cho đến hành động nhỏ nhất của người dân, bên cạnh việc nắm giữ lực lượng an ninh, công an, quân đội…thì chế độ cộng sản vẫn còn an toàn.
Sự an toàn tuyệt đối đó đã bị phá vỡ kể từ khi có internet ra đời. Từng ngày từng ngày bức tường sắt ngăn chặn thông tin của nhà cầm quyền bị xuyên thủng, rò rỉ cho những luồng thông tin từ bên ngoài tràn vào. Sự độc quyền thông tin không còn, đồng thời tất cả sự hạn chế, méo mó, sai lệch của cái hệ thống thông tin đặt dưới sự kiểm duyệt, lèo lái của nhà nước ấy dần dần bị phơi bày trước mắt người dân.
Nhu cầu khao khát thông tin, khao khát sự thật dẫn dắt người dân đến với những nguồn thông tin bên ngoài. Và khi nguồn thông tin này bao gồm báo chí quốc tế, báo chí của người Việt ở nước ngoài, các diễn đàn độc lập, mạng lưới trang blog cá nhân mọc lên như nấm sau mưa… càng lúc càng mạnh, phong phú, cập nhật nhanh, đa chiều hơn hẳn, thì người dân cũng dần dần không buồn đọc/nghe/xem nguồn thông tin chính thức trong nước hoặc đọc/nghe/xem với con mắt biết hoài nghi, đối chiếu, so sánh trong-ngoài…
Nhà cầm quyền, do vậy, không còn thi hành được chính sách ngu dân tuyệt đối như trước nữa.
Nhưng họ vẫn tìm mọi cách để không công khai minh bạch mọi thông tin mà người dân cần biết và có quyền được biết từ phía nhà cầm quyền.
Từ nhân thân, tính nết, năng lực thật sự, tài sản…của các quan chức lớn nhỏ, đặc biệt là các nhân vật lãnh đạo cho đến những chính sách, phương hướng, đường lối điều hành quản lý đất nước trong mọi lĩnh vực, đối nội và đối ngoại.
Từ thực chất mối quan hệ Việt-Trung trong bao nhiêu năm, nội dung của những bản hiệp ước, hiệp định về lãnh thổ lãnh hãi đã ký kết giữa hai bên cho đến những gì đang thực sự diễn ra trên biển Đông hiện nay và những kịch bản nào sẽ xảy ra cho đất nước trong tương lai…
Từ những sai lầm trong chính sách về kinh tế dẫn đến tình trạng suy yếu, bất ổn kéo dài của nền kinh tế vĩ mô, thực chất của vấn đề nợ công hay tình trạng làm ăn thua lỗ của các doanh nghiệp nhà nước đang ảnh hưởng như thế nào đến nền kinh tế và làm thế nào để thay đổi….cho đến sự thật phía sau những vụ án lớn về kinh tế như vụ PMU18, vụ Vinashine, Vinalines…
Hay mới đây là vụ ông Nguyễn Đức Kiên, ông Lý Xuân Hải bị bắt. Tất nhiên, một vụ án khi đang trong quá trình điều tra có những điều không thể công bố nhưng người dân cũng thừa hiểu rằng, cho dù sau này khi vụ án đã được đưa ra xử lý, nhân dân cũng không bao giờ được biết thực sự các ông này bị tội gì, liên quan đến ai, tầm vóc của sự việc đến đâu v.v…và v.v…Báo chí được phép đăng cái gì, bao giờ đăng, đăng đến đâu…đều đã được chỉ đạo, theo dõi kỹ càng.
Hệ quả từ sự không công khai, minh bạch thông tin này đã quá rõ. Thứ nhất, kìm hãm chức năng thông tin, khám phá, bảo vệ sự thật của báo chí, báo chí quốc doanh bị biến thành công cụ, cái loa của nhà cầm quyền trong lúc báo chí bên ngoài ngày càng thu hút mạnh mẽ người đọc như đã nói ở trên. Thứ hai, tạo những khoảng trống thông tin trong xã hội cho những tin đồn, tin hành lang, những giả thuyết, phỏng đoán gây nhiễu…lan tràn, khiến người dân càng thêm mất lòng tin vào nhà nước, từ đó cứ việc mình mình làm, tự bảo vệ mình, suy xét mọi việc theo đám đông.
Như trong vụ bầu Kiên bị bắt vừa qua. Sự hoang mang, sợ hãi do không nắm được thông tin rõ ràng, không hiểu chuyện gì đang/sắp/sẽ xảy ra cộng với tâm lý bầy đàn, hiệu ứng đám đông nên các nhà đầu tư chứng khoán đua nhau báo tháo các cổ phiếu, thị trường chứng khoán bị một phen tụt dốc thê thảm, bên cạnh đó, người dân ùn ùn đi rút tiền tại các ngân hàng được cho là có liên hệ với bầu Kiên khiến nhà nước phải bơm hàng ngàn tỷ đồng hỗ trợ thanh khoản. Giá vàng cũng theo đó tăng vọt lên…
Nhà cầm quyền từ chỗ phải nhường bước, trở thành lép vế trên mặt trận truyền thông tiến tới không kiểm soát và khống chế được thông tin bên ngoài nữa.
Càng ngày, việc không công khai minh bạch hóa thông tin càng đưa đến tình trạng bất lợi cho chính nhà cầm quyền.
Về mặt kinh tế, VN từ lâu đã trở thành một mảnh đất mầu mỡ cho nạn tham nhũng tràn lan, sự lãng phí, tình trạng ăn cướp, vơ vét tài nguyên thiên nhiên, tài sản của đất nước và nhân dân một cách trắng trợn bằng mọi thủ đoạn của những kẻ có chức có quyền cũng như sự tung hoành của mọi loại tội phạm kinh tế trong và ngoài nước…Về mặt xã hội, VN cũng là mảnh đất màu mỡ cho mọi loại tội phạm hình sự, do được điều hành bằng luật của đảng và luật rừng, tình trạng đạo đức xuống cấp, những bất công phi lý cứ ngang nhiên tồn tại khắp nơi…
Còn về mặt thông tin, ở VN đang tồn tại một nghịch lý rõ rệt: những loại thông tin vô bổ, thậm chí rác rưởi như việc đi sâu khai thác tỉ mỉ các vụ án hình sự cướp giết hiếp, thế giới showbiz và những trò lố lăng v.v…thì tràn ngập, trong khi đó, những thông tin cần thiết cho người dân trong mọi lĩnh vực đời sống quốc gia và đời sống cá nhân, được công khai từ phía nhà nước thì rất ít. Những thông tin đúng thì rất hiếm mà các loại tin đồn, tin chắp nối vỉa hè, các loại giả thuyết, phỏng đoán thì nhiều.
Gần đây các loại thông tin như vậy phần lớn được tung ra từ một trang mạng có tên là Quan Làm Báo, chưa biết rõ mục đích thật sự là gì, do ai/nhóm nào điều hành, nhưng rõ ràng kiểu đưa tin nửa úp nửa mở, pha trộn giữa tin đồn, và những thông tin có được bằng những con đường bí ẩn nào đó, với cách viết giật gân, thấp tầm, bất cần kiểm chứng, đã “lấp chỗ trống” phần nào cho người dân đang tò mò và thiếu thốn những loại thông tin chính thức từ phía sau hậu trường chính trị VN.
Nếu theo dõi các bài viết trên trang Quan Làm Báo, người ta có thể suy đoán, hoặc trang mạng này do tay chân của phe nhóm này lập ra để triệt hạ uy tín của phe kia, mà ở đây sự ủng hộ dành cho phe nào thì vẫn không dám khẳng định chắc chắn, nhưng phe bị chĩa mũi dùi thì rõ ràng là phe của ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Nếu quả đúng như vậy thì việc khui những bí mật động trời của nhau ra cũng chỉ nhằm mục đích chính là đánh nhau, chứ không phải vỉ thật sự muốn “mở mắt” cho người dân. Mặt khác, dựa vào sức mạnh của trang web không bị đánh sập bởi an ninh mạng VN, cộng với cách hành văn, lỗi chính tả….cho thấy có vẻ như không phải do một nhóm người Việt chủ trương. Và nếu vậy thì do ai, từ đâu?
Có người đã từng đặt ra vấn đề, rằng trong mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, ngoại giao…TQ là tay tổ chuyên nghề đánh phá VN từ xưa đến nay, bằng mọi thủ đoạn tinh vi nhất để kìm hãm không cho VN phát triển. Và thực tế đã cho thấy TQ làm điểu đó không có gì khó, với một nhà cầm quyền ngu muội, hèn nhát, có tầm nhìn ngắn, lại tham lam, cố bám giữ quyền lực đến cùng và luôn luôn đặt quyền lợi của phe nhóm, của chế độ lên trên quyền lợi của đất nước, dân tộc như nhà nước cộng sản VN. Do đó, trong lĩnh vực thông tin, nếu Bắc Kinh muốn phá, trình độ của họ, chẳng có gì mà họ không làm được. Như việc tạo ra một trang mạng kiểu như Quan Làm Báo, tung ra những thông tin hư hư thực thực, chẳng hạn.
Và trong cả hai trường hợp, về lâu về dài, thực sự chẳng có lợi gì cho VN và cho người dân VN.
Một ví dụ nhỏ, về góc độ kinh tế xã hội, những thông tin do trang này tung ra như hàng loạt tin đồn nhân vật này nhân vật kia trong giới kinh doanh, tài chính ngân hàng bị bắt hoặc bị quản thúc, khiến các nhân vật này phải lên tiếng cải chính hoặc xuất hiện công khai. Và người dân, những ai đọc được những thông tin loại này thì hoang mang thêm, rồi người này truyền tai người kia, rủ nhau đi rút tiền ở ngân hàng này ngân hàng khác, khiến hệ thống ngân hàng VN vốn đang bị khủng hoảng do nợ xấu đã đến mức báo động, cộng thêm tình trạng rối loạn do các nhóm lợi ích tìm mọi cách thao túng, lũng đoạn …nay càng thêm rối. Còn dưới góc độ thông tin, mặc dù nó có thể đáp ứng cho người dân phần nào những bí mật xấu xa mà nhà cầm quyền muốn che dấu, nhưng nó cũng làm nhiễu loạn thêm.
Cuối cùng thì nhà cầm quyền VN đã rơi vào thế “gậy ông đập lưng ông”. Vì muốn bưng bít thông tin, vì không chấp nhận sự công khai minh bạch như trong một xã hội tự do dân chủ nên họ mới bị rơi vào thế lúng túng, đối phó bị động tứ bề như hiện nay.

Đại Họa Mất Nước